ĐIẾU THUỐC LÀO VẼ TÍCH TÔ VŨ MỤC DƯƠNG - ĐỒ CỔ CHÍ HIẾU

ĐIẾU THUỐC LÀO VẼ TÍCH TÔ VŨ MỤC DƯƠNG - ĐỒ CỔ CHÍ HIẾU

ĐIẾU THUỐC LÀO VẼ TÍCH TÔ VŨ MỤC DƯƠNG - ĐỒ CỔ CHÍ HIẾU

ĐIẾU THUỐC LÀO VẼ TÍCH TÔ VŨ MỤC DƯƠNG - ĐỒ CỔ CHÍ HIẾU

ĐIẾU THUỐC LÀO VẼ TÍCH TÔ VŨ MỤC DƯƠNG - ĐỒ CỔ CHÍ HIẾU
ĐIẾU THUỐC LÀO VẼ TÍCH TÔ VŨ MỤC DƯƠNG - ĐỒ CỔ CHÍ HIẾU
Scroll top

bàn tròn thưởng ngoạn

Liên kết

Tỉ giá

Tỷ giá ngoại tệ Vietcombank ngày :


Thành phố Loại vàng Giá bán Giá mua
Chi tiết sản phẩm

ĐIẾU THUỐC LÀO VẼ TÍCH TÔ VŨ MỤC DƯƠNG

Danh mục: Vietnam Custom-Made Porcelains - Đồ sứ ký kiểu - 越南文物 - 寄矫陶瓷器

Tô Vũ chăn dê

Trên những cổ vật còn sót lại như:tô,chén,dĩa,bình hoa..chúng ta thấy thường vẽ hình một người tay cầm cờ tiết mao, chăn bầy dê giữa một chốn hoang vu cực kỳ buồn thảm.Đó là tích Tô Võ chăn dê hay (Tô Vũ mục dương). Đặc biệt trên một cái điếu sứ hút thuốc lào thời tự Đức (1848-1883) vẽ tích Tô Vũ chăn dê (Tô Vũ mục dương) có kèm bài từ và hiệu đề Liên Bích(聯璧)sau đây:

Âm:

“Thử khả quật.
Tuyết khả niết,
Bất khả vong Hán tiết
Luật bội xoa,
Lăng tham sinh,
Tô quân độc hữu tâm đầu huyết nhiệt
Kiêu động cốt đoàn thành thiết
Mục đê, đê nhũ không nhiêu thiệt”

Dịch nghĩa:

Chuột có thể đào lên,
Tuyết có thể gặm mòn,
Không thể làm mất tiết tháo sứ Hán
Vệ Luật hàng giặc
Lý Lăng tham sống
Ông Tô một mình giữ tấm lòng với bầu máu nóng
Bộ xương gầy cử động luyện cứng thành sắt thép
Chăn dê đực, dê đực không có sữa để thấm lưỡi

Tô Vũ tên thật Tô Tử Khanh, người đất Đỗ Lăng là một bầy tôi trung của vua Hán Vũ Đế. Thời đó, nhà Hán thường bị giặc Hung Nô ở phương Bắc hay quấy nhiễu, dòm ngó. Tuy là nước lớn nhưng muốn cầu hòa, nên Hán Vũ Đế sai Tô Vũ đi sứ sang Hung Nô.

Sang bên Hung Nô, vì làm phật ý vua Hung Nô (thiền vu), Tô Vũ bị bỏ vào hang, ba ngày không cho ăn để cho chết. Tô Vũ nhờ hớp những giọt sương đêm trên ngù cờ mà sống sót. Thấy lạ, chúa Hung Nô kinh sợ, cho Tô Vũ là thần, không dám hại nữa mà đày đến đất Bắc chăn , giao hạn cho tới khi nào dê đực đẻ ra dê con mới được trở về Hán.

Đất Bắc giá lạnh hoang vu, không có người. Tô Vũ ở nơi đi đày, ngày chăn dê, tối ngủ hang đá, thiếu thốn, cực khổ và tuyệt vọng. Gặp mùa chim nhạn thiên di về phương Nam, Tô Vũ viết một lá thư nhờ chim nhạn mang về nhà cho đỡ nỗi nhớ nhung. Hán Vũ Đế tình cờ nhặt được thư mới biết Tô Vũ đang phải chăn dê khổ cực ở phương Bắc.

Ở nơi đi đày, Tô Vũ chỉ còn biết làm bạn với cỏ cây, cầm thú và đã kết bạn tình với một nàng vượn người. Mặc dù cuộc sống của "họ" là hoang dã nhưng họ luôn âu yếm nhau và đã có với nhau một đứa con. Sau 19 năm, nhờ sự can thiệp của Hán Vũ Đế, Tô Vũ chia tay người vợ vượn người trở về Hán.

Vậy thì đó là điển tích của người Tàu nhưng ở Việt Nam xưa cũng có một sứ thần mà tình cảnh cũng rất giống như ông Tô Võ.Đó là trường hợp của  Lê Quang Bí 

Lê Quang Bí sinh năm 1506, hiệu là Hối Trai, là con của Trạng nguyên Lê Nại, cháu bốn đời của Lê Cảnh Tuân.

Lê Quang Bí sinh ra trong gia đình có truyền thống Nho học. Năm 27 tuổi, Lê Nại đã đỗ Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ - đệ nhất danh Trạng nguyên trong khoa thi lấy đỗ 55 tiến sĩ ở khoa thi Ất Sửu, niên hiệu Đoan Khánh 1 (1505) đời Lê Uy Mục. Lê Nại thi cả năm trường đều đỗ thủ khoa, sau làm đến chức Hữu thị lang bộ Hộ. Khi Lê Nại mất còn được truy tặng tước Đạo Trạch Bá.

Chú Quang Bí là Lê Tài (Lê Đỉnh hoặc Lê Tư) cũng nổi tiếng thần đồng về việc học; cùng thi kỳ đệ nhất khoa Ất Sửu (1505) với cha ông. Đến khoa Tân Mùi (1511) Lê Tài đỗ Hoàng giáp, làm quan Cấp sự trung ở bộ Lại.

Mạc Đăng Dung thay ngôi nhà Lê, lập ra nhà Mạc. Lê Quang Bí theo giúp nhà Mạc. Được 6 năm (1533), cựu thần nhà Lê là Nguyễn Kim khởi binh khôi phục nhà Lê. Cả nhà Lê và nhà Mạc đều tranh thủ sự ủng hộ, thừa nhận của nhà Minh nên ngoài mặt trận chiến tranh trong nước, mặt trận ngoại giao với nhà Minh kéo dài dai dẳng nhiều năm về vấn đề này.

Thời Mạc Tuyên Tông, năm Mậu Thân, niên hiệu Cảnh Lịch thứ nhất (1548), Mạc Tuyên Tông cử Lê Tiến Quy làm Chánh sứ và Lê Quang Bí làm phó sứ, sang sứ nhà Minh cầu phong.

Khi đoàn sứ Đại Việt đến Nam Ninh, triều Minh ngờ là quan giả mạo, bắt phải chờ để tra xét minh bạch đã, mới cho dâng lễ phẩm. Sau đó phía nhà Minh gửi văn thư đi tra xét, nhưng chẳng có hồi âm. Chỉ có Lê Tiến Quy được về còn Lê Quang Bí cứ phải lưu tại sứ quán chờ mệnh lệnh Mạc Tuyên Tông.

Lúc đó trong nước nhiều việc rối ren, quân Lê Trịnh đánh ra bắc, chiến sự vô cùng ác liệt khiến nhà Mạc bỏ khiếm khuyết việc cống Bắc triều mấy năm liền, nên cũng không dám tâu xin.

Năm 1561, Mạc Tuyên Tông mất, con là Mậu Hợp nối ngôi.

Năm 1563, quan quân Lưỡng Quảng nhà Minh mới sai người đưa Lê Quang Bí tới Bắc Kinh triều kiến vua Minh. Nhân dịp vua mới là Mạc Mậu Hợp cũng sai hầu mệnh gửi cho ông 25 lạng bạc để thưởng lạo. Khi Lê Quang Bí tới Bắc Kinh, lại bị lưu ở sứ quán thêm vài năm nữa.

Năm 1566, viên Đại học sĩ triều Minh là Lý Xuân Phương thương Quang Bí ở trong nước nhà Minh đã 18 năm, bị giữ lâu ở công quán mà vẫn giữ được mệnh chúa, nên tâu lên vua Minh nhận cống phẩm và cho ông về. Vua mới nhà Minh là Mục Tông bằng lòng theo lời của Xuân Phương, cho ông trở về nước. Người Minh ví ông như Tô Vũ đi sứ đến lúc bạc đầu mới được trở về

Trong suốt 18 năm đi sứ bị giam giữ, Lê Quang Bí vẫn luôn giữ gìn phẩm hạnh và kỷ cương phép nước, không làm ô danh nước Đại Việt.

Ngày 25 tháng 1 năm Bính Dần, niên hiệu Sùng Khang thứ nhất đời Mạc Mậu Hợp (1566), ông trở về nước. Mạc Mậu Hợp di cư ra hành quán ở Bồ Đề (Gia Lâm), sai Lại Bộ thượng thư kiêm Đông Các đại học sĩ Kế Khê bá Giáp Hải và Đông các hiệu thư Phạm Duy Quyết lên tận đầu địa giới Lạng Sơn để đón sứ thần Lê Quang Bí. Lúc được cử đi sứ, Lê Quang Bí mới 43 tuổi, tóc còn xanh mà lúc trở về nước, ông đã 61 tuổi, đầu tóc đã bạc trắng.

Về đến tổ quốc, Lê Quang Bí được Mạc Hậu Hợp phong cho chức thượng thư, lại phong cho tước Tô quận công, ví ông với vị trung thần Tô Vũ nhà Hán.

 

Tương truyền trong thời gian bị giữ lại ở Nam Ninh, Lê Quang Bí còn sáng tác tập thơ "Tô Công Phụng sứ", gồm 24 bài thơ Đường luật, thuật lại chuyện Tô Vũ đời nhà Hán đi sứ sang Hung Nô, để gửi gắm tâm sự của mình.

Ngoài ra, ông còn một tập thơ khác, gồm một số bài thơ trong cuốn "Tư lương vận lục", viết theo đề tài lịch sử và hoài cổ.

Hai bài thơ tiêu biểu của Lê Quang Bí trong tập Tô công phụng sứ ở Trung Quốc là:

Bắc Hải chăn dê

Cờ sứ vững cầm một cán không,

Mười thu nghìn dặm, tiết cô trung.

Đất Hồ, sương tuyết gầy mình hạc,

Đền Hán, ngày đêm nhớ mặt Rồng.

Bể Bắc ngày chầy dê chưa đẻ,

Trời Nam nẻo viễn nhạn khôn không

Khăng khăng chẳng chuyển lời vàng đá,

Bia tạc muôn đời tượng tướng công.

Gửi thư mượn nhạn

Khôn lấy mồi thơm dỗ tiết ngay,

Cho nên lưu lạc nước non này,

Bốn mùa đắp đổi kho trăng gió,

Một áng thừa lưa lộc tháng ngày.

Chẳng những lòng vàng trên bể Bắc,

Đã nguyền đầu bạc dưới đền Tây.

Tấc niềm bộc bạch hàng thư lụa,

Phó mặc bên trời chiếc nhạn bay.

 

Có lẽ ông cha ta ngày xưa muốn khuyến khích các sứ thần vốn thường xuyên đi sứ sang nước ngoài,không làm nhục sứ mệnh nên đã đặt làm những món đồ sứ tuy tuồng tích của người Tàu nhưng là ngầm ca ngợi tiết tháo trung trinh của Lê Quang Bí chăng?

                                                                                                                                                (Tư liệu Wikipedia)

COPYRIGHT BY ĐỒ CỔ CHÍ HIẾU
Facebook chat